Như chúng ta đã biết, Chủ nghĩa Mác do C.Mác và Ph. Ăngghen sáng lập vào những năm 40 của thế kỷ XIX và được V.I Lênin bổ sung và phát triển.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng, Hiến pháp năm 2013 và văn kiện Đại hội Đảng đã khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Sự khẳng định đó phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam qua hơn 90 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng yêu cầu cán bộ, đảng viên phải kiên định với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với Việt Nam. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, xuất hiện trên mạng internet và một số ấn phẩm in, phát tán những quan điểm sai trái, xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác – Lênin để từ đó phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Quan điểm quy chủ nghĩa Mác – Lênin về tư tưởng “đấu tranh giai cấp là động lực phát triển xã hội”
Như chúng ta đã biết, phát hiện ra vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp không phải không phải là công lao của Mác. Trong thư gửi Vây-đơ-mai-ơ ngày 5/3/1852, Mác viết: “Tôi không có công lao là đã phát hiện ra sự tồn tại của các giai cấp trong xã hội hiện đại, cũng không phải có công lao là đã phát hiện ra cuộc đấu tranh giữa các giai cấp với nhau. Các nhà sử học tư sản trước tôi rất lâu đã trình bày sự phát triển lịch sử của cuộc đấu tranh giai cấp đó, còn các nhà kinh tế học tư sản thì đã trình bày sự giải phẫu kinh tế của các giai cấp, cái mới mà tôi đã làm là chứng minh rằng:
– Sự tồn tại của các giai cấp chỉ gắn với những giai đoạn phát triển lịch sử nhất định của sản xuất.
– Đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản.
– Bản thân nền chuyên chính này chỉ là bước quá độ tiến tới thủ tiêu mọi giai cấp và tiến tới xã hội không có giai cấp”.
Như vậy, Mác không coi đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của xã hội nói chung như một số người quan niệm, mà chỉ là một động lực phát triển của xã hội có đối kháng giai cấp mà thôi. Trong xã hội cộng sản nguyên thủy chưa có giai cấp nên chưa có đấu tranh giai cấp, và sau này trong tương lai khi xã hội không còn phân chia giai cấp nữa thì cũng không còn đấu tranh giai cấp. Nghĩa là như Mác đã khẳng định, đấu tranh giai cấp chỉ gắn với những giai đoạn lịch sử nhất định của sự phát triển xã hội.
Quan điểm khoa học về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác không phải là áp đặt, bịa đặt mà phản ánh một thực tế khách quan trong xã hội có phân chia giai cấp đó là sự đối kháng giữa các giai cấp: bóc lột và bị bóc lột, thống trị và bị thống trị, áp bức và bị áp bức. Do đó, đấu tranh giai cấp trong các xã hội này là tất yếu khách quan, góp phần thúc đẩy cho xã hội vận động, phát triển lên những hình thái cao hơn.
Tuy nhiên, chủ nghĩa Mác không bao giờ coi đấu tranh giai cấp là động lực duy nhất trong xã hội có giai cấp. Ngoài động lực này, như Mác đã từng chỉ ra, còn những động lực khác như: quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với lực lượng sản xuất; tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội; cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng… Vì vậy, không nên cường điệu động lực giai cấp và đấu tranh giai cấp.
Cùng với đó, việc nhận thức và giải quyết vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp phải phù hợp với tình hình thực tiễn, điều kiện lịch sử – cụ thể của mỗi quốc gia dân tộc và phù hợp với từng giai đoạn của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng linh hoạt, sáng tạo quan điểm về giai cấp và đấu tranh giai cấp trong việc lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Khi phân tích, so sánh về đấu tranh giai cấp ở Phương Đông và phương Tây, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ ra sự khác biệt: “Ấn Độ hay Trung Quốc về cấu trúc kinh tế không giống các xã hội phương Tây thời Trung cổ, cũng như thời cận đại, và đấu tranh giai cấp ở đó không quyết liệt như ở đây”. Theo đó, Hồ Chí Minh đã phê phán quan điểm giáo điều, máy móc của một số người về đấu tranh giai cấp ở Việt Nam: “Nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng”.
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiếp thu, vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về giai cấp và đấu tranh giai cấp. Đảng ta luôn xác định, hiện nay và trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, ở nước ta đấu tranh giai cấp là một tất yếu.
Như vậy, Đảng ta không phủ nhận đấu tranh giai cấp trong thời kì quá độ, song quan niệm đấu tranh giai cấp cũng như động lực phát triển đất nước phù hợp hơn với sự thay đổi về kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước.
Về cái gọi là “chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan thể hiện dưới hình thức chủ nghĩa Mác – Lênin”
Quan điểm này đem quy chủ nghĩa Mác – Lênin về chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan, đối lập với tư tưởng “đoàn kết và thống nhất của học thuyết Hồ Chí Minh”. Đây là sự quy chụp, áp đặt, xuyên tạc cho chủ nghĩa Mác – Lênin một cách vô căn cứ. Bởi vì chia rẽ, cực đoan không phải là bản chất của chủ nghĩa Mác – Lênin mà đó là tư tưởng và hành động sai lầm của những người theo chủ nghĩa chia rẽ, bè phái, tả khuynh hoặc hữu khuynh…Chủ nghĩa Mác – Lênin là một hệ thống các nguyên lý, quy luật khoa học, cách mạng phản ánh những quy luật khách quan của xã hội, tự nhiên, tư duy con người.
Thực tế đã chứng minh, Mác, Ăngghen, Lênin luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, thống nhất trong phong trào cách mạng. Trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C.Mác và Ăngghen đã đưa ra khẩu hiệu: “Vô sản toàn thế giới, đoàn kết lại”. Sau này Lênin bổ sung thêm: “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại”.
Kế thừa một cách sáng tạo, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giương cao ngọn cờ đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh, khi nào đoàn kết thì thắng lợi, chia rẽ là thất bại. Đảng đấu tranh, loại bỏ tư tưởng cực đoan, phiến diện, duy ý chí, chia rẽ, bè phái. Coi chia rẽ, bè phái là tội nặng nhất, làm phá hoại tổ chức đảng.
Cương lĩnh bổ sung; phát triển năm 2011, Đảng ta đã chỉ ra bài học quan trọng: “không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết; đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế”. Đó là truyền thống quý báu và là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Đảng ta cũng khẳng định, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực chủ yếu, là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam.
Qua 37 năm đổi mới, như Đảng ta đã khẳng định, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.
Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang phát triển. Chính trị – xã hội ổn định; quốc phòng – an ninh được tăng cường. Văn hóa, xã hội có bước phát triển, bộ mặt đất nước và đời sống nhân dân có nhiều thay đổi. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và mở rộng. Đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường.
Có thể nói, những thành tựu nêu trên tạo tiền đề quan trọng để đất nước ta tiếp tục phát triển trong những năm tới, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Những thành tựu trên khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là hoàn toàn đúng đắn, sáng tạo, được quảng đại quần chúng nhân dân thừa nhận, tin tưởng và bạn bè quốc tế đánh cao.
Cùng với đó, trong quá trình đổi mới, chúng ta cũng còn những hạn chế, yếu kém, bất cập. Kinh tế phát triển chưa bền vững, năng suất, hiệu quả, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp; tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng; sự suy thoái trong Đảng, quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ chưa ngăn chặn được; công tác lý luận còn yếu kém, bất cập, chưa giải đáp được nhiều vấn đề thực tiễn đang đặt ra.
Điều đó đòi hỏi Đảng ta phải tiếp tục đổi mới tư duy, kiên định đường lối đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng cường tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, tiếp tục bổ sung, hoàn thiện đường lối đổi mới, làm cho đường lối đổi mới được thực hiện ngày càng hiệu quả với chất lượng cao, quyết tâm lớn, hành động quyết liệt, bản lĩnh vững vàng, th