Lò cao kháng chiến Hải Vân – nơi “tiếp lửa” cho Chiến dịch Điện Biên Phủ

Lò cao kháng chiến Hải Vân là nơi sản xuất hàng trăm tấn gang, đúc vũ khí chống quân Pháp xâm lược, góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ ‘lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu’ của dân tộc Việt Nam.

Minh họa không gian tổng thể cảnh quan núi Đồng Mười, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa

Minh họa không gian tổng thể cảnh quan núi Đồng Mười, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa

Được xây dựng trong hang núi Đồng Mười, xã Hải Vân, huyện Như Thanh (Thanh Hóa), Lò cao kháng chiến Hải Vân được xem như kỳ tích của ngành quân giới Việt Nam trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Theo tài liệu lịch sử, năm 1948, dưới sự chỉ đạo của Cục Quân giới, Bộ Quốc phòng, xưởng kim khí kháng chiến 3KC do kỹ sư Võ Quý Huân (trí thức kiều bào theo Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước năm 1946) được giao nhiệm vụ thiết kế thi công lò cao luyện gang phục vụ kháng chiến chống Pháp.

Lò cao kháng chiến Hải Vân được xây dựng trong hang núi Đồng Mười

Lò cao kháng chiến Hải Vân được xây dựng trong hang núi Đồng Mười

Ban đầu, Cục Quân giới và Sở Khoáng chất kỹ nghệ Trung Bộ đã chọn Cầu Đất, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, để xây dựng lò cao nhỏ mang tính thử nghiệm. Ngày 15/11/1948, lò cao Cầu Đất cho ra mẻ gang đầu tiên, là dấu mốc trong ngành luyện kim và công nghiệp quốc phòng của đất nước khi đó.

Tuy nhiên, địa hình hiểm trở gây khó khăn trong việc vận chuyển cũng như sinh hoạt của cán bộ kỹ sư nên xí nghiệp được dời về vùng Cát Văn bên bờ sông Lam, tỉnh Nghệ An. Việc xây dựng đang tiến hành thuận lợi thì thực dân Pháp phát hiện, ngày đêm cho máy bay ném bom đánh phá.

Vị trí đặt lò cao thuận lợi về giao thông, đảm bảo tính bí mật trong thời chiến

Vị trí đặt lò cao thuận lợi về giao thông, đảm bảo tính bí mật trong thời chiến

Cuối năm 1949, sau nhiều cuộc khảo sát, lò cao luyện gang được Cục Quân giới quyết định di chuyển đến thung lũng Đồng Mười, huyện miền núi Như Xuân (nay là huyện Như Thanh, Thanh Hóa). Vị trí này thuận lợi về giao thông, gần nguồn nguyên, nhiên liệu, đảm bảo tính bí mật nên có thể hoạt động lâu dài.

Tháng 6/1950, các kỹ sư và công nhân bắt đầu xây dựng đồng thời hai lò cao với ký hiệu NX1, NX2. Lò NX1 có dung tích 6,7m3 để sản xuất gang và lò NX2 kích thước nhỏ hơn (dung tích chỉ 1m3) dùng để thử nghiệm. Sau 15 tháng xây dựng, vận chuyển từ viên gạch chịu nhiệt đến hàng trăm tấn máy móc thiết bị từ Nghệ An ra và từ Ninh Bình vào, tháng 9/1951, hai lò cao đã hoàn thành tại thung lũng Đồng Mười.

Tháng 9/1951, hai lò cao đã hoàn thành tại thung lũng Đồng Mười

Tháng 9/1951, hai lò cao đã hoàn thành tại thung lũng Đồng Mười

Tháng 9/1951, lò NX2 cho ra mẻ gang đầu tiên. Tiếp đó ngày 7/11/1951, lò NX1 được đưa vào vận hành. Tuy nhiên, khói lò tỏa ra dày đặc, dễ bị địch phát hiện nên phải tạm dừng hoạt động. Các kỹ sư đã cho đào một đường dẫn khói dài 500 m nằm sâu dưới lòng đất, có nhiều lỗ thông hơi nhằm tản khói đi nhiều hướng như màn sương nhẹ, máy bay địch vì thế khó phát hiện, đảm bảo an toàn khi lò hoạt động liên tục cả ngày lẫn đêm.

Cuối năm 1951, lò NX1 hoạt động trở lại và sản xuất liên tục. Sau hai năm, hai lò đúc gang ở Đồng Mười đã sản xuất được gần 200 tấn gang cung cấp cho các công binh xưởng ở Khu 4 chế tạo vũ khí phục vụ chiến trường đánh Pháp. Hai lò đang hoạt động thì thực dân Pháp phát hiện, cho máy bay ném bom bắn phá suốt ngày đêm.

Lò sấy, có chức năng sấy quặng trước khi đưa vào lò cao

Lò sấy, có chức năng sấy quặng trước khi đưa vào lò cao

Căn cứ vào tình hình thực tiễn, được sự đồng ý của cấp trên, ban lãnh đạo lò cao Đồng Mười do kỹ sư Trần Đại Nghĩa, lúc bấy giờ là Cục trưởng Cục Quân giới, quyết định xây dựng lò cao trong hang núi, cách vị trí cũ chừng 2 km. Việc xây dựng hệ thống lò cao to lớn và cồng kềnh trong lòng núi rất phức tạp về kỹ thuật và chưa có tiền lệ trên thế giới, song kỹ sư và công nhân vẫn quyết tâm thực hiện bằng được.

Từ đầu năm 1953, họ vừa sản xuất gang tại vị trí cũ, vừa cho khoan đá đánh mìn dọn hang nhằm mở đường cho việc di chuyển máy móc, trang thiết bị đến vị trí mới. Hơn 400 phát mìn đã được kích nổ để mở rộng lòng hang, dọn dẹp chướng ngại vật. Chỉ trong thời gian ngắn, lò đúc gang dung tích 8,3 m3, cao 13 m, mang bí số NX3 đã được lắp đặt hoàn chỉnh trong lòng núi Đồng Mười.

Mỗi ngày, lò sản xuất trung bình 3 tấn gang cung cấp cho các công xưởng sản xuất vũ khí

Mỗi ngày, lò sản xuất trung bình 3 tấn gang cung cấp cho các công xưởng sản xuất vũ khí

Mỗi ngày, lò sản xuất trung bình 3 tấn gang cung cấp cho các công xưởng sản xuất vũ khí. Thời gian này, quân và dân làm nên chiến thắng tại đèo Hải Vân, vì vậy Cục Quân giới đã quyết định đổi tên lò cao NX3 thành lò Hải Vân.

Theo thống kê, từ cuối năm 1951 đến tháng 7/1954, lò cao NX1 và NX3 đã sản xuất gần 500 tấn gang, đáp ứng được yêu cầu sản xuất, chế tạo các loại vũ khí như mìn, lựu đạn, súng cối, đạn bazoka, xoong nồi quân dụng… phục vụ chiến trường. Ngoài ra, gang còn dùng để đúc những quả tạ lớn làm búa máy phục vụ sửa chữa những cây cầu bị phá hoại trong chiến tranh.

Sau thắng lợi Điện Biên Phủ, tháng 12/1954, lò cao kháng chiến Hải Vân hoàn thành sứ mệnh và ngừng hoạt động

Sau thắng lợi Điện Biên Phủ, tháng 12/1954, lò cao kháng chiến Hải Vân hoàn thành sứ mệnh và ngừng hoạt động

Lò cao kháng chiến Hải Vân gắn liền với tên tuổi của các nhà khoa học hàng đầu Việt Nam thời bấy giờ như giáo sư viện sĩ Trần Đại Nghĩa, kỹ sư Võ Quý Huân, cán bộ kỹ thuật Trịnh Tam Tỉnh, các kỹ sư Trịnh Văn Yên, Đặng Trần Cảnh, Tống Nguyên Lễ, Lương Ngọc Khuê, Nguyễn Văn Thân, Hồ Đắc Liên… Ngoài ra còn có hàng nghìn công nhân địa phương.

Sau thắng lợi Điện Biên Phủ, tháng 12/1954, lò cao kháng chiến Hải Vân hoàn thành sứ mệnh và ngừng hoạt động. Năm 2013, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã xếp hạng lò cao kháng chiến Hải Vân là di tích lịch sử quốc gia. Lò đang từng bước được huyện Như Thanh và ngành văn hóa trùng tu, tôn tạo, phát huy giá trị của di tích.

Tin liên quan: